Giáo án Lịch sử lớp 10 - Bài 20 Xây dựng và phát triển nền văn hóa dân tộc trong các thế kỉ X-XV

Giáo án Lịch sử lớp 10 - Bài 20 Xây dựng và phát triển nền văn hóa dân tộc trong các thế kỉ X-XV

GIÁO ÁN GIẢNG DẠY

Bài 20:

XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NỀN VĂN HÓA DÂN TỘC

TRONG CÁC THẾ KỈ X-XV

I.MỤC TIÊU BÀI HỌC: Sau khi học sinh học xong bài học sẽ

1.Về kiến thức:

-Hiểu được trong những thế kỷ độc lập, mặc dù trải qua nhiều biến động, nhân dân ta vẫn nổ lực xây dựng một nền văn hóa dân tộc, tiên tiến.

-Nắm được trải qua các triều đại Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hồ, Lê sơ ở các thế kỷ X-XV, cuộc công xây dựng văn hóa được tiến hành đều đặn, nhất quán. Đây cũng là giai đoạn hình thành nền văn hóa Đại Việt (còn gọi là Văn hóa Thăng Long).

-Biết được dưới ảnh hưởng sâu sắc của ý thức làm chủ đất nước và các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, nền văn hóa Thăng Long phản ánh đậm đà tư tưởng yêu nước, tự hào và độc lập dân tộc.

2.Về kỹ năng:

Rèn luyện kĩ năng quan sát, tư duy, phát hiện những nét đẹp văn hóa.

 

docx 18 trang Người đăng phamhung97 Lượt xem 10347Lượt tải 10 Download
Bạn đang xem tài liệu "Giáo án Lịch sử lớp 10 - Bài 20 Xây dựng và phát triển nền văn hóa dân tộc trong các thế kỉ X-XV", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
SỞ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG MARIE CURIE
GVHD: Ngô Thị Thanh Hải
GSTT: Nguyễn Quốc Cường
MS: 3112100001
Trường: Đại học Sài Gòn
 Ngày soạn: 26/1/2016
 Tuần: 3
 Tiết: 3
GIÁO ÁN GIẢNG DẠY
Bài 20:
XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NỀN VĂN HÓA DÂN TỘC
TRONG CÁC THẾ KỈ X-XV
I.MỤC TIÊU BÀI HỌC: Sau khi học sinh học xong bài học sẽ
1.Về kiến thức:
-Hiểu được trong những thế kỷ độc lập, mặc dù trải qua nhiều biến động, nhân dân ta vẫn nổ lực xây dựng một nền văn hóa dân tộc, tiên tiến.
-Nắm được trải qua các triều đại Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hồ, Lê sơ ở các thế kỷ X-XV, cuộc công xây dựng văn hóa được tiến hành đều đặn, nhất quán. Đây cũng là giai đoạn hình thành nền văn hóa Đại Việt (còn gọi là Văn hóa Thăng Long).
-Biết được dưới ảnh hưởng sâu sắc của ý thức làm chủ đất nước và các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, nền văn hóa Thăng Long phản ánh đậm đà tư tưởng yêu nước, tự hào và độc lập dân tộc.
2.Về kỹ năng:
Rèn luyện kĩ năng quan sát, tư duy, phát hiện những nét đẹp văn hóa.
.
3. Về tư tưởng, tình cảm
-Bồi dưỡng niềm tự hào về văn hóa đa dạng của dân tộc.
-Bồi dưỡng ý thức bảo vệ các di sản văn hóa tốt đẹp của dân tộc. 
-Giáo dục ý thức phát huy năng lực sáng tạo trong văn hóa.
II.THIẾT BỊ DẠY HỌC:
-SGK Lịch sử 10
-SGV Lịch sử 10
-Hệ thống công nghệ thông tin phục vụ cho việc giảng dạy 
III.TIẾN TRÌNH DẠY HỌC:
1.Ổn định lớp
2.Kiểm tra bài cũ
Em hãy cho biết diễn biến và kết quả của cuộc kháng chiến chống Tống lần thứ 2? Nguyên nhân thắng lợi của các cuộc kháng chiến trong thế kỷ X-XV?
3.Giới thiệu bài mới
Cùng với sự lớn mạnh về chính trị và kinh tế, trong suốt 6 thế kỷ lao động và chiến đấu, các vương triều phong kiến nước ta đã chứng kiến một sự phát triển rực rỡ về văn hóa. Đây được xem là giai đoạn phát triển thịnh đạt của nền văn hóa Đại Việt. Để thấy được những thành tựu văn hóa nhân dân ta xây dựng được từ thế kỷ X-XV, Thầy và Trò chúng ta cùng đi vào bài 20: XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA DÂN TỘC TRONG CÁC THẾ KỈ X-XV.
4.Tổ chức hoạt động dạy-học
Hoạt động của GV-HS
Nội dung kiến thức cần truyền đạt
GV chuyển ý sang mục I. Nền văn hóa dân tộc thời phong kiến được chia thành 2 bộ phận chính:
1.Tư tưởng, tôn giáo
2.Giáo dục, văn học, nghệ thuật, khoa học-kĩ thuật
Đầu tiên, để tìm hiểu tình hình tư tưởng, tôn giáo trong giai đoạn này như thế nào? Chúng ta cùng đi vào mục I
♣ GV đặt câu hỏi cho HS: Em hãy dựa vào SGK và kiến thức đã học cho Thầy biết, trong thời kì Bắc thuộc, nước ta đã du nhập những tư tưởng, tôn giáo nào? 
-GV nhận xét câu trả lời HS
-GV cho HS ghi bài
Hoạt động 1: Tìm hiểu sự phát triển của Phật giáo trong triều đại Lý-Trần thế kỷ X-XIV
-GV giảng: Ngay từ thời Bắc thuộc, Nho giáo đã sớm du nhập vào nước ta. Tuy nhiên, đạo Nho và chữ Hán chỉ được truyền bá và phát triển trong một bộ phận quan lại, những tầng lớp trên của xã hội nên chưa có ảnh hưởng rộng rãi trong dân chúng. Trong khi đó, Phật giáo với giáo lý gần gũi với tín ngưỡng của dân gian người Việt nên được đại bộ phận dân chúng tin theo. Sau khi nước ta giành được độc lập, tự chủ thì trong thế kỷ X-XIV, Phật giáo đã giữ một vai trò quan trọng. Dưới thời Lý-Trần đặc biệt là thời Lý nó đã trở thành một tôn giáo thịnh đạt nhất trong xã hội.
-GV cho HS ghi bài 
-GV đặt câu hỏi cho HS: Tại sao trong giai đoạn thế kỷ X-XIV Phật giáo lại giữ vai trò quan trọng, phổ biến?
-GV nhận xét câu trả lời HS:
-GV chốt ý: 
+Phật giáo có ảnh hưởng đáng kể trong đời sống tâm linh người dân Việt cho nên nó cũng phần nào ảnh hưởng đến cách trị quốc của các vị vua.
+Xuất phát từ ý thức độc lập, tự chủ của dân tộc ta. Nếu như các triều đại phong kiến Trung Hoa sử dụng Nho giáo như là một hệ tư tưởng chính thống để chi phối đời sống xã hội nhằm tập trung vào việc bảo vệ quyền lực của giai cấp thống trị bằng những quy định khắc khe thì ngược lại ở nước ta những giáo lý của Phật giáo lại ảnh hưởng đến đường lối cai trị của nhà nước phong kiến (chính sách thân dân, khoan dung) thấm nhuộm tinh thần nhân đạo, thu phục được nhân tâm. Ví dụ, như việc vua Lý Thánh Tông tha tội mưu phản cho các em của mình, việc truyền lệnh cung cấp đủ thực phẩm và chiếu mền cho tù nhân trong mùa đông, ân xá tù nhân mỗi khi khánh thành một ngôi chùa, đã cho thấy tinh thần Phật giáo đã thấm đậm trong cách trị quốc của các vị vua. đặc biệt là các vua triều Lý.
+Phật giáo đã nhập thể, nhiều nhà sư đã tham gia vào chính trị của đất nước: Ngô Chân Lưu, Pháp Thuận, Pháp Loa, Vạn Hạnh,  Dưới thời Đinh-Tiền Lê có một bộ phận quan lại vốn là các vị sư gọi là Tăng ban được xem như là những cố vấn tích cực cho triều đình. Ngoài ra, Phật giáo còn góp phần cho việc gây dựng nên nhiều triều đại. Điển hình, Lý Công Uẩn vị vua khai sinh ra triều Lý vốn được nuôi dưỡng trong một môi trường Phật giáo. Sự thành lập của nhà Lý một sự đóng góp rất lớn của các vị sư mà tiêu biểu là sư Vạn Hạnh. Các đời vua Lý trở về sau đều sùng Phật giáo. Đến thời Trần, nhiều vị vua, vương hầu, quý tộc đã xuất gia như: Trần Nhân Tông, Trần Tung sáng lập nên các hệ phái của Phật giáo.
-GV cho HS đọc SGK/tr.101 để thấy được vị trí của Phật giáo
Hoạt động 2: Tìm hiểu sự phát triển của Nho học thời Lê sơ
-GV giảng tiếp: Sau khi Lê được thành lập, để hoàn thiện thể chế nhà nước trung ương tập quyền, các vua thời Lê đã sử dụng Nho giáo làm hệ tư tưởng chính thống của nhà nước. Đề cao Nho giáo, các vua Lê sơ đã hạn chế, kiểm soát những tốn giáo phi chính thống như Phật giáo, Đạo giáo. Tuy vậy, Phật giáo và Đạo giáo trong thời Lê sơ vẫn tồn tại trong xã hội, được mọi giới thừa nhận nhất là quần chúng nhân dân.
-GV cho HS ghi bài
-GV đặt câu hỏi cho HS: Tại sao dưới thời Lê sơ Nho giáo lại được sử dụng làm hệ tư tưởng chính thống? 
-GV nhận xét câu trả lời HS
-GV chốt ý:
+Phật giáo cuối thế kỷ XIV có dấu hiệu suy thoái, một bộ phân sư sãi biến chất, thoái hóa.
+Bộ máy nhà nước thời Lê là bộ máy nhà nước quân chủ chuyên chế đạt đến mức độ cao, hoàn chỉnh. Để củng cố, duy trì quyền lực tối cao của nhà Vua thì Nho giáo được xem là một công cụ quan trọng. Bởi lẽ, nho giáo nhấn mạnh việc cổ vũ tôn thờ nhà Vua. Các nguyên tắc Tam cương – Ngũ thường trói buộc con người vào trật tự xã hội đương thời. Nho giáo đã được triệt để lợi dụng để trở thành công cụ để duy trì và bảo vệ trật tự của xã hội phong kiến. Ví dụ: Quan hệ Vua-tôi: “Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung”, quan hệ cha-con “Phu xử tử vong, tử bất vong bất hiếu”, quan hệ chồng-vợ “Phu xương phụ tùy” . 
-GV chuyển ý sang mục II: Chúng ta vừa tìm hiểu tình hình tư tưởng, tôn giáo trong giai đoạn này. Tiếp theo chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu sang bộ phận 2 của nền văn hóa dân tộc thời phong kiến. Chúng ta đi vào mục II
-GV chuyển ý sang II.1: Đầu tiên chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu tác động của tư tưởng ,tôn giáo đối với tình hình giáo dục trong thời kì này 
Hoạt động 1: Tìm hiểu tình hình giáo dục thế kỷ X-XV
-GV giảng: Nho học mặc dù có sự chuyển biến khác nhau trong từng thời kỳ, có những lúc độc tôn như thời Lê sơ có những lúc chỉ chiếm vị trí khiêm tốn dưới thời Lý-Trần. Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng thiết chế quân chủ tập quyền thì Nho học vẫn được các triều đại phong kiến sử dụng như một bệ đỡ tư tưởng vững chắc cho bộ máy chính quyền, một đường hướng rõ ràng để ổn định xã hội. Trong đó, biện pháp chiến lược đó là việc xây dựng chế độ khoa cử để đào tạo nhân tài qua đó tuyển lựa quan lại có năng lực phục vụ cho bộ máy hành chính. Ngay từ triều Lý, mặc dù Phật giáo giữ vai trò quan trọng, phổ biến nhưng Nho giáo vẫn được triều đình phong kiến chú trọng. 
♣ GV đặt câu hỏi cho HS: Em hãy dựa vào SGK cho thầy biết, dưới triều Lý giáo dục nước ta có sự kiện gì nổi bật? 
-GV nhận xét câu trả lời HS
-GV cho HS ghi bài 
-GV giảng thêm về Văn miếu Quốc tử giám và khoa thi đầu tiên của nhà Lý: Văn Miếu được vua Lý Thánh Tông cho xây dựng năm 1070 để thờ Khổng Tử - người sáng lập ra Nho giáo và các bậc tiên hiền trong Nho học. Đến năm 1075, nhà nước đã tổ chức khoa thi đầu tiên và người đỗ đầu chính là Lê Văn Thịnh (Bắc Ninh). Việc nhà nước xây dựng Văn Miếu và tổ chức khoa thi đầu tiên đã cho thấy được nhận thức của các triều đại phong kiến mà cụ thể là triều Lý về vai trò của Nho học trong việc xây dựng và hoàn chỉnh thiết chế nhà nước phong kiến, đặc biệt là việc chú trọn đào tạo bộ máy quan lại cho triều đình.
-GV đặt câu hỏi cho HS: Trong thế kỷ XI-XIV, giáo dục nước ta đã có những bước phát triển như thế nào?
-GV nhận xét câu trả lời HS:
-GV cho HS ghi bài:
-GV giảng thêm: 1 năm sau khi dựng Văn Miếu đến năm 1076, nhà Lý tiếp tục cho xây dựng một ngôi trường bên cạnh Văn Miếu để dạy Nho học mang tên Quốc Tử Giám do Chu Văn An làm Tư nghiệp (Hiệu trưởng). Đây được xem là trường đại học đầu tiên của Việt Nam. Ban đầu trường được sử dụng làm nơi học hành cho Hoàng gia chủ yếu dạy học cho Hoàng Thái tử. Nhưng sau đó thì mở rộng ra cho con em quan lại., quý tộc (Trần), con em học giỏi xuất thân từ bình dân (Lê sơ). Khoa cử trở thành một trong những biện pháp để nhà nước tuyển chọn quan lại. Thời nhà Lý, khoa cử tổ chức chưa theo niên hạn đều đặn và tổ chức được 3 khoa thi. Đến thời nhà Trần thì tổ chức quy cũ thường xuyên hơn, niên hạn 7 năm 1 kỳ và tổ chức được 14 khoa thi. Riêng thời Lê sơ, có 2 cấp thi là thi hương và thi hội (3 năm/lần) và tổ chức 26 khoa thi. Bên cạnh Tử Quốc Giám là trường học cấp cao của cả nước thì dưới thời Trần, Lê còn có mạng lưới trường học được xây dựng trải dài đến các phủ, châu, huyện, xã tạo điều kiện góp phần cho việc nâng cao dân trí, đào tạo được một tầng lớp nho sĩ cho nước nhà. Ngoài ra, nhà nước còn cho dựng Bia tiến sĩ vào năm 1448.
♣ GV đặt câu hỏi cho HS: Em hãy cho biết tác dụng của việc dung Bia tiến sĩ?
-GV nhận xét câu trả lời HS
-GV chốt ý: 
+Khuyến khích mọi người học tập
+Đề cao những người tài giỏi: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp”.
-GV giảng: Mặc dù Nho học được chú trọng. Tuy nhiên, giáo dục Nho học do chủ yếu thiên về thiên văn học, triết học, đạo đức, chính trị,Vì vậy không tạo điều kiện cho phát triển kinh tế.
-GV cho HS ghi bài 
-GV chuyển ý sang mục II.2: Cùng với sự phat triển của giáo dục, văn học cũng đạt được nhiều thành tựu nhất định. Thầy-Trò ta cùng tim hiểu sang mục II.2
Hoạt động 2: Tìm hiểu các thể loại, nội dung văn học thế kỷ X-XV
-GV giảng: Trong thế kỷ X-XV, văn học nước ta được chia thành hai bộ phận. Đó là văn học chữ Hán và văn học chữ Nôm. Đầu tiên, chúng ta sẽ tìm hiểu về dòng văn học chữ Hán
-GV đặt câu hỏi cho HS: Dòng văn học chữ Hán thời kỳ này phát triển như thể nào? Em hãy kể tên những tác phẩm chữ Hán nổi bật trong thời kì này?
-GV nhận xét câu trả lời HS
-GV cho HS ghi bài 
-GV có thê đọc một vài đoạn trong các tác phẩm kể trên.
-GV giảng: Bên cạnh dòng văn học chữ Hán, trong thời kì này đã hình thành nên một dòng văn học mang đậm dấu ấn dân tộc đó là văn học chữ Nôm. 
-GV cho HS ghi bài 
-GV giảng thêm về chữ Nôm và một số tác phẩm văn học chữ Nôm: Dưới thời Bắc thuộc, ta chưa có chữ viết chính thức nên ta phải du nhập chữ Hán của Trung Hoa. Dù chữ Hán có sức sống mạnh mẽ đến đâu chăng nữa, một văn tự ngoại lai không thể nào đáp ứng, thậm chí bất lực trước đòi hỏi, yêu cầu của việc trực tiếp ghi chép hoặc diễn đạt lời ăn tiếng nói cùng tâm tư, suy nghĩ và tình cảm của bản thân người Việt. Chính vì vậy chữ Nôm đã ra đời để bù đắp vào chỗ mà chữ Hán không đáp ứng nổi do ông cha ta sáng tạo ra dựa trên cơ sở chữ Hán. Một trong những nguyên tắc tạo ra chữ Nôm có việc ghép các từ Hán lại với nhau (2,3 từ) ví dụ chữ tháng
 Trời (𡗶) = chữ 天(thiên) và chữ 上(thượng)
 Lời (唎) = chữ 口(khẩu) và chữ 利(lợi)
Thế kỷ XIII, chữ Nôm phổ biến với giai thoại về Hàn Thuyên trong một tác phẩm về văn tế cá sấu bằng văn Nôm [GV có thể kế chuyển về Nguyễn Thuyên]. Với sự ra đời của dòng văn học chữ Nôm đã cho thấy được đây chính là một sản phẩm của tinh thần dân tộc: 
-GV đặt câu hỏi cho HS: Em hãy cho biết nội dung văn học thời kì này?
-GV nhận xét câu trả lời HS
-GV cho HS ghi bài 
-GV chuyển ý sang mục II.3: Trong hơn 5 thế kỷ, các triều đại phong kiến đã để lại nhiều loại hình nghệ thuật nổi tiếng và đặc sắc. Trong đó có nhiều loại hình còn tồn tại cho đến ngày nay. Để cùng nhau tìm hiểu sự phát triển của nghệ thuật trong giai đoạn này Thầy-Trò chúng ta cùng vào phần 3
Hoạt động 3: Tìm hiểu những thành tựu của nghệ thuật thế kỷ X-XV
-GV giảng: Đối với nghệ thuật chúng ta sẽ tìm hiểu ở 3 khía cạnh: Nghệ thuật kiến trúc, nghệ thuật điều khắc và nghệ thuật sân khấu-âm nhạc. Đầu tiên, đó là nghệ thuật kiến trúc thì trong giai đoạn Lý – Trần – Hồ là giai đoạn để lại nhiều công trình nghệ thuật kiến trúc-điêu khắc. Trong đó giai đoạn Lý-Trần, do ảnh hưởng tư tưởng Phật giáo thì nhiều kiến trúc được xây dựng phục vụ cho nhu cầu tôn giáo và nghê thuật trong 2 triều đại này phát triển theo hướng Phật giáo. Kiến trúc tiêu biểu Phật giáo thời kỳ này đó chính là kiến trúc chùa tháp, ngoài ra còn cho đúc tượng, chuông rất nhiều. Giai đoạn này, chúng ta đã tạo nên được 4 công trình nghệ thuật nổi tiếng đó chính là An Nam tứ đại khí (Tháp Báo thiên, Chuông Quy Điền, Tượng Phật chùa Quỳnh Lâm, Vạc Phổ Minh). Tuy nhiên, bốn công trình này đã bị nhà Minh phá đi. Riêng đối với thành quách, dưới thời nhà Hồ đã cho xây dựng một tòa thành ở Thanh Hoá gọi là Thành Tây Đô. Đây là một công trình kiến trúc đồ sộ bằng đá vẫn còn tồn tại cho đến hiện nay trở thành một di sản văn hóa thế giới. Diện tích thành khá rộng (630.000m2), cao 6m được xây dựng bằng những phiến đá tảng nguyên khối nặng 17 tấn dài 7m. Đây là một công trình nghệ thuật kiến trúc đặc sắc của nước ta. 
-GV cho HS ghi bài 
-GV đặt câu hỏi cho HS: Bên cạnh sự phát triển của nghệ thuật kiến trúc thì điều khắc có những nét gì nổi bật. 
-GV cho HS ghi bài 
-GV giới thiệu cho HS hình 41-SGK về nghệ thuật điều khắc nước ta: Điện Kính Thiên được xây dựng dưới thời nhà Lý là di tích trung tâm của Hoàng thành Thăng Long được sử dụng suốt các triều đại Lý, Trần Lê. Trước cửa điện có tạc 4 đầu rồng đá, mang phong cách chạm khắc đá thời Lê. Rồng dài 5m uốn 7 khúc, đầu to, mình lớn, có sừng, trông rất dữ tợn. Hình rồng này tượng trưng cho sự uy quyền phon kiến, phản ánh trình độ điều khắc mang tính sắc sảo, điêu luyện. 
-GV giảng: Ngoài kiến trúc, điêu khắc, nghệ thuật sân khấu-âm nhạc trong giai đoạn này rất phong phú và đa dạng. Đối với loại hình sân khấu thì múa rối là môn nghệ đặc sắc phát triển từ thời nhà Lý. Ngoài ra, còn là sự phát triển của các loại hình chèo, tuồng Đối với âm nhạc là sự phong phú của các loại nhạc cụ mang đậm tính dân tộc. Bên cạnh đó, trong các lễ hội còn có tổ chức các trò chơi dân gian: đấu vật, đánh đu, leo dây, đá cầu Tất cả tạo nên bản sắc văn hóa Việt Nam 
-GV cho HS ghi bài 
-GV chuyển ý sang mục II.4: Xuất phát từ nhu cầu cần bảo vệ nền độc lập, phát triển đất nước về mọi mặt, nâng cao nhận thức của con người. Khoa học-kĩ thuật nước ta đã có những bước tiến bộ để đáp ứng những nhu cầu đó. Để tìm hiểu những thành tựu của khoa học-kĩ thuật, chúng ta cùng đi vào tìm hiểu mục II.4
-GV giảng: Trong khoa học-kĩ thuật sẽ được chia thành hai bộ phận là khoa học xã hội và khoa học tư nhiện. Đối với khoa học xã hội, giai đoạn này đã đều lại nhiều công trình có giá trị trên nhiều lĩnh vực sử học, địa lý, quân sự.
+Về Sử học: Có được nhiều bộ sử nổi tiếng như Đại Việt sử ký, Đại Việt sử ký toàn thư, Lam Sơn thực lục
-GV cho HS ghi bài 
-GV giảng thêm về các bộ sử trên: Đại Việt sử ký là bộ Quốc sử đầu tiên của nước ta do Lê Văn Hưu biên soạn, bao gồm 30 quyển, ghi chép lịch sử nước ta từ thời kì Triều Đà cho đến Lý Chiêu Hoàng. Đại Việt sử ký toàn thư do nhà sử gia Ngô Sĩ Liên biên soạn trên cơ sở kế thừa bộ Đại Việt sử ký, bao gồm 24 quyển ghi chép lịch sử nước ta từ thời sơ kỳ cho đến nhà Lê và là bộ chính sử có giá trị, còn tồn tại cho đến ngày nay. Lam Sơn thực lục do Nguyễn Trãi là tác giả ghi chép quá trình 10 năm khởi nghĩa của quân Lam Sơn chống Minh. 
-Về địa lý: Không thể không kể đến Dư địa chí và Hồng Đức bản đồ. Đây là hai công trình góp phần giúp nhà Vua và triều đình có được những nhận thức cơ bản về cương vực, hành chính đất nước, con người, tài nguyên của dân tộc góp phần cho việc xây dựng quốc gia.
-GV cho HS ghi bài 
-Về mặt chính trị: Có cuốn Thiên Nam dư hạ. do vị quan nhà Lê là Thân Nhân Trung biên soạn và tập hợp lại các chiếu chỉ, luật lệ, quy định cũng như các sáng tác văn học của nhà vua cũng như các học giả khác. Ban đầu, bộ sưu tập có 100 cuốn, trải qua nhiều biến động lịch sử, hầu hết các cuốn sách bị thất lạc hoặc tiêu hủy. Chỉ còn 10 cuốn được bảo quản cho đến bây giờ. Thông qua nghiên cứu Thiên Nam Dư Hạ Tập, các sử gia có thể hiểu thêm được phần nào tình hình chính trị ,kinh tế dưới sự cai trị của vua Lê Thánh Tông, một trong những vị vua thông minh và tận tâm nhất trong triều đại nhà Lê.
-GV cho HS ghi bài 
♣ GV giảng kết hợp đặt câu hỏi cho HS: Dân tộc ta trong suốt các triều đại phong kiến đều phải trải qua các cuộc kháng chiến để bảo vệ nền độc lập dân tộc. Vì vậy, để tập hợp kinh nghiêm đấu tranh giữ nước của dân tộc, trong giai đoạn thế kỷ X-XV, chúng ta đã có những tác phẩm quân sự nào? 
-GV nhận xét câu trả lời HS
-GV cho HS ghi bài 
-GV giảng thêm về tác phẩm này: Đây là tác phẩm về nghệ thuật quân sự gắn liền với nhà quân sự kiệt xuất Trần Quốc Tuấn. Tác phẩm đến nay đã bị thất truyền. Đây là bộ sách quân sự đầu tiên của nước ta.
♣ GV giảng kết hợp đặt câu hỏi cho HS:: Cùng với sự phát triển của khoa học xã hội, khoa học tự nhiên và kĩ thuật cũng đạt được những thành tựu nhất định đặc biệt là trong hai lĩnh vực toán học và kĩ thuật. Vậy thì toán học, chúng ta có những công trình nổi tiếng nào?
-GV nhận xét câu trả lời HS
-GV cho HS ghi bài
-GV giảng thêm 2 tác phẩm toán học này: Đây là tác phẩm gắn liền tên tuổi của Trạng Nguyên Lương Thế Vinh và danh thần nhà Lê là Vũ Hữu. Đây được xem là hai nhà toán học lớn của nước ta thời trung đại. Đối với Đại thành toàn pháp các pnói về bảng cửu chương, các phép toán và các số lớn... Đại thành toán pháp được đưa vào chương trình thi cử của khoa cử Phong kiến. Còn Lập thành toàn pháp chuyên về đo đạc, tính toán diện tích, tính toán về xây dựng nhà cửa thành lũy. Cả hai nhân vật này đều gắn liền với hai câu truyện nổi tiếng là cân voi, sửa thành. [GV có thể kể chuyện cho các em]
-GV giảng: Về mặt kĩ thuật đặc biệt là lĩnh vực quân sự đã có những tiến bộ với việc chế tạo được súng thần cơ, thuyền chiến có lầu và kĩ thuật xây dựng thành quách 
I.Tư tưởng, tôn giáo
-Từ thời Bắc thuộc, Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo vốn đã du nhập vào nước ta có điều kiện phát triển. 
-Thời Lý-Trần, Phật giáo giữ vai trò quan trọng và phổ biến. 
-Thời Lê sơ, giai cấp thống trị dần lấy Nho giáo làm hệ tư tưởng chủ đạo. Phật giáo, Đạo giáo đi vào nhân dân 
II.Giáo dục, văn hóa, nghệ thuật, khoa học-kĩ thuật
1.Giáo dục:
-1070, Lý Thánh Tông cho lập Văn Miếu.
-1075, khoa thi đầu tiên được tổ chức 
-Từ thế kỉ XI-XIV, giáo dục ngày càng được hoàn thiện để đào tạo quan chức và nâng cao dân trí. 1484, nhà nước cho dựng bia Tiến sĩ.
-Tuy nhiên, giáo dục Nho học không tạo điều kiện cho phát triển kinh tế. 
2.Văn học:
-Chủ yếu là văn học chữ Hán, vời nhiều bài thơ, hịch, phú nổi tiếng: Nam quốc sơn hà, Hịch tướng sĩ, Bạch Đằng giang phú
-Văn học chữ Nôm bước đầu được hình thành
-Nội dung: thể hiện lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc, ca ngơi đất nước
3.Sự phát triển của nghệ thuật 
-Nghệ thuật kiến trúc phát triển theo hướng Phật giáo (chùa Một Cột, tháp Phổ Minh), thành quách (thành nhà Hồ) 
-Nghệ thuật điêu khắc mang họa tiết, hoa văn độc đáo
-Nghệ thuật sân khấu, ca múa, âm nhạc mang đậm tính dân gian 
4.Khoa học – Kĩ thuật
-Khoa học xã hội: 
+Sử học: Đại Việt sử ký, Đại Việt sử ký toàn thư, Lam Sơn thực lục
-Địa lí: Dư địa chí, Hồng Đức bản đồ
-Chính trị: Thiên Nam dư hạ
-Quân sư: Binh thư yếu lược (Trần Hưng Đạo) 
-Khoa học tự nhiên và kĩ thuật:
+Toán học: Đại thành toán pháp, Lập thành toán pháp 
+Kĩ thuật: Chế tạo súng thần cơ, đóng thuyền chiến có lầu, xây dựng thành nhà Hồ 
5. Củng cố bài học 
Trước khi kết thúc bài học, GV cần chốt lại cho HS nắm được: Trong suốt 6 thế kỷ, nhân dân ta xây dựng và phát triển được một nền văn hóa mang đậm dấu ấn dân tộc. Mặc dù bị mất mát rất nhiều nhưng ngày này chúng ta vẫn có thể thừa hưởng, chiêm ngưỡng khá nhiều những thành tựu văn hóa đương thời. 
6.Bài tập cho học sinh 
7.Dặn dò
-Học sinh học bài 20
-Xem trước bài 21
IV. GVHD NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ
	GVHD kí tên 
	Ngày Tháng  Năm 2016	

Tài liệu đính kèm:

  • docxBai_20_Xay_dung_va_phat_trien_van_hoa_dan_toc_trong_cac_the_ky_XXV.docx